✨Bà Nguyễn Phước Đại

Bà Nguyễn Phước Đại

Bà Nguyễn Phước Đại (6 tháng 2 năm 1924

Xuất thân ở Trà Vinh, bà Nguyễn Phước Đại theo học Đại học ngành Luật tại Pháp và sau đó về nước tham gia các hoạt động về tư pháp tại miền Nam Việt Nam. Dưới thời Đệ Nhị Cộng hòa, bà là một trong những nghị sĩ đối lập với chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Bên cạnh đó, bà Nguyễn Phước Đại còn tham gia một số phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, bà Nguyễn Phước Đại ở lại Việt Nam và tham gia một số hoạt động dân sự trong nước, trong đó có việc mở một nhà hàng ngay tại văn phòng luật của bà trước đây. Bà từng được nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba; ngoài ra còn là Phó Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam trong nhiệm kỳ đầu tiên của Hội này từ năm 1995 đến năm 2001.

Tiểu sử

Thân thế và học vấn

Nguyễn Quỳnh Anh sinh ngày 6 tháng 2 năm 1924 tại huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương trong một gia đình trí thức. Bà là con của Bác sĩ Nguyễn Văn Nhã, hành nghề ở Trà Vinh. Năm 1941, Nguyễn Quỳnh Anh theo ông ngoại sang Pháp, định cư ở Montpellier và đến năm 1951 bà tốt nghiệp Tú tài và Cử nhân Luật tại Pháp. Về sau tổ chức này sáp nhập vào Phong trào Phụ nữ Liên đới của Trần Lệ Xuân vào năm 1959. Ngày 27 tháng 9 năm 1963, bà tham gia cuộc bầu cử Quốc hội khóa III của Việt Nam Cộng hòa và đắc cử Dân biểu khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn. Tuy vậy, bà chỉ làm Dân biểu được một thời gian ngắn thì xảy ra vụ đảo chính lật đổ nền Đệ Nhất Cộng hòa vào cuối năm 1963. Sau đó, bà tạm thời rời chính trường, trở lại hành nghề luật sư.

phải|nhỏ|Nguyễn Phước Đại bào chữa cho Võ Văn En trong vụ ám sát [[Trần Văn Văn, 1967]] Sau khi Dân biểu Trần Văn Văn bị ám sát vào cuối năm 1966, bà được Đoàn luật sư phân công nhiệm vụ bào chữa cho bị cáo Võ Văn En (Em), vốn là một đặc công Việt Cộng. Kết quả là En bị tuyên án tử hình nhưng sau đó được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu giảm án thành tù chung thân tại Nhà tù Côn Đảo theo yêu cầu của bà góa phụ của ông Văn. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, En cùng các đồng đội được thả tự do. Võ Văn En nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân vào năm 2018. Ngoài ra, vào tháng 3 năm 1970, Nguyễn Phước Đại có tham gia bào chữa một vụ án chính trị, bị cáo là Dân biểu Trần Ngọc Châu ở Tòa án Quân sự Mặt trận Vùng III Chiến thuật tại Sài Gòn. nhưng lại thuộc nhóm bắt thăm có nhiệm kỳ 3 năm. Đầu năm 1969, bà được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu mời tham gia một phái đoàn trí thức nhân sĩ miền Nam thăm chính thức một số nước châu Á, châu Âu và châu Mỹ với mục đích làm cho thế giới hiểu thêm về miền Nam và chính thể Việt Nam Cộng hòa. Đoàn được các chính phủ thân Việt Nam Cộng hòa như Nhật Bản, Bỉ, Ý, Tây Đức, Hà Lan, Pháp, Anh và Mỹ đón tiếp trân trọng nhưng không vượt qua khuôn khổ ngoại giao. Ngay khi vừa đặt chân đến Paris, bà có dịp mở một cuộc họp báo tại Thượng viện Pháp chủ yếu nhằm vận động giải pháp chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Các thành viên của đoàn trở về Sài Gòn đều lần lượt tham gia chính phủ Thiệu hoặc đứng vào tập hợp đảng phái của Thiệu. Chỉ có hai người vẫn đứng ngoài chính quyền là bà và Dân biểu Lý Quí Chung. Trong buổi chiêu đãi đoàn tại Dinh Gia Long sau chuyến đi, bà được Tổng thống Thiệu chính thức mời tham gia chính phủ nhưng bà đã khéo léo từ chối.

Trong cuộc bầu cử bán phần Thượng nghị viện năm 1970, bà hợp tác cùng cựu Trung tướng Trần Văn Đôn lập liên danh đối lập gọi là Dân tộc Hòa bình nhưng khi liên danh sắp sửa đăng ký ứng cử thì phát hiện Dân biểu Lý Quí Chung có vấn đề về điều kiện tuổi nên liên danh dự kiến không thành. Riêng bà vẫn muốn tiếp tục ra tranh cử bèn thành lập một liên danh khác mang tên Cái Nhà không có năm dân biểu có mặt trong danh sách trước nhưng rồi đã thất bại. Đến năm 1973, bà đắc cử trở lại trong cuộc bầu cử Thượng nghị viện Pháp nhiệm II và lên làm Phó Chủ tịch Thượng nghị viện Việt Nam Cộng hòa cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngoài ra, bà cũng từng chỉ trích kịch liệt cuộc bầu cử tổng thống bị cho là mang tính độc diễn của ông Thiệu vào năm 1971 và nói với cựu Thiếu tướng Đỗ Mậu rằng:

"Là người Công giáo, tôi càng thấy xấu hổ khi thấy trong ngày bầu cử tại Sài Gòn chỉ thấy có quân đội, công an và cảnh sát, và các ông Cha bà Sơ đi bầu cho Thiệu, còn nhân dân thì tẩy chay. Từ đây tôi chấm dứt lập trường ủng hộ ông Thiệu".

Trong hoạt động phản chiến, Nguyễn Phước Đại tham gia vào Ban Chấp hành Phong trào Phụ nữ Việt Nam đòi quyền sống do nữ luật sư Ngô Bá Thành sáng lập kiêm Chủ tịch, còn bà Đại đóng vai trò đồng Chủ tịch đặc trách Pháp lý. Các lãnh đạo phong trào thường xuyên đứng ra vận động quần chúng nhân dân, tổ chức nhiều cuộc biểu tình đòi hòa bình, chống chiến tranh, chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn và các đô thị miền Nam. Khi bà Ngô Bá Thành bị bắt vào tháng 8 năm 1971, chỉ vài ngày sau luật sư Nguyễn Phước Đại đã được cử làm quyền Chủ tịch, Xử lý thường vụ Ban Chấp hành Trung ương trong thời gian bà Thành bị giam giữ.

Sau năm 1975, toàn bộ hệ thống tư pháp của miền Nam đều bị giải thể, nên trong giới luật sư không còn nhiều người còn có thể hành nghề chuyên môn về luật pháp được nữa. Sau Đổi Mới, bà chuyển nghề mở một quán ăn ngay tại Thư viện nơi đặt Văn phòng luật sư cũ của bà tại số 84A đường Nguyễn Du, Quận 1 và quán ăn này có tên gọi tiếng Pháp là La Bibliothèque de Madame Dai.

Vào năm 1994, bà Đại tham gia sáng lập trường đại học dân lập đầu tiên ở Thành phố Hồ Chí Minh là Trường Đại học Văn Lang. Đối với lĩnh vực pháp luật, luật sư Nguyễn Phước Đại có thời gian được mời cộng tác trong Ban Biên giới Chính phủ, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam và là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Luật gia Việt Nam khóa VIII (1993 – 1999). Bà cũng được bầu làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa IV (1994 – 1999), khóa V (1999 – 2004).

Đời tư

Luật sư Nguyễn Phước Đại là tín hữu Công giáo. Vào năm 1947, bà lập gia đình với Bác sĩ Nguyễn Phước Đại, nguyên là Giám đốc Bệnh viện Sài Gòn trước năm 1975. Bà thông thạo nhiều ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Anh và tiếng Nhật.